Điều trị ung thư bằng các thuốc không phải alkyl hóa và các phương pháp ít dùng

Cytarabin

Cytarabin được dùng ở liều cao để điều trị bệnh bạch cầu cấp và ở một số phác đồ điều trị u lymphô ác tính không Hodgkin. Liều cao cytarabin gây độc với hệ thần kinh, gây suy giảm chức năng của não. Nếu chức năng thận bị giảm thì độc tính với thần kinh tăng lên rõ. Các độc tính với thần kinh có thể hồi phục nhưng cũng có thể gây chết người. Khi xuất hiện các độc tính với thần kinh, cần dừng ngay cytarabin. Các biến chứng đe dọa tính mạng khác bao gồm phù phổi không do tim, thường gây chết người. Viêm củng mạc mắt do cytarabin cũng có thể xảy ra và được phòng bằng corticoid tại chỗ.

            Etoposid

Đây là thuốc ức chế men topoisomerase II có tác dụng hiệp đồng với các thuốc platin (Thuốc Tagrix). Khi dùng đơn độc liều cao, thuốc có tác dụng điều trị bệnh bạch cầu và UNG THƯ tinh hoàn. Các độc tính ngoài huyết học chủ yếu là viêm niêm mạc miệng, độc với gan và giảm huyết áp do tạo lipid nếu được truyền nhanh.

Các thuốc hóa chất khác

Các thuốc khác cũng có thể có hiệu quả khi dùng liều cao nhưng hoặc ít được sử dụng hơn do khả năng ứng dụng không lớn hoặc chưa được nghiên cứu đầy đủ. Paclitaxel có hoạt tính với UNG THƯ vú và buồng trứng. Một nghiên cứu pha I báo cáo liều dung nạp tối đa của thuốc là 725mg/m2. Fludarabin gây giảm lymphô bào và ức chế miễn dịch nên được sử dụng điều trị bệnh bạch cầu lymphô mạn tế bào B. Do tính chất ức chế miễn dịch nên thuốc được dùng phối hợp với các alkyl hoá hoặc xạ trị toàn thân liều thấp để làm tăng khả năng mọc ghép trong ghép dị gen. Độc tính ngoài ức chế tủy và ức chế miễn dịch là nhìn mờ và các triệu chứng độc với hệ thần kinh trung ương khi dùng ở liều rất cao.

Các phác đồ hóa trị liều cao

Các phác đồ được sử dụng trong hóa trị liều cao phần lớn dựa vào kinh nghiệm và một số được so sánh ở các thử nghiệm ngẫu nhiên. Việc phối hợp thế nào, liều ra sao là tốt nhất, lợi ích của một phác đồ “tấn công” ngay trước khi điều trị liều cao và lợi ích các đợt liều cao nhắc lại có ý nghĩa hay không vẫn là các câu hỏi chưa được trả lời. Tới nay chưa có thử nghiệm ngẫu nhiên nào so sánh các phác đồ liều cao thực sự với các phác đồ liều chuẩn hay các phác đồ tăng liều khiêm tốn. Mỗi bệnh, mỗi phương pháp ghép người ta sử dụng các phác đồ khác nhau. Trong khuôn khổ bài viết chung này, chúng tôi xin không đi sâu vào từng phác đồ cụ thể.

Tham khảo thêm về Thuốc Erlocip điều trị ung thư phổi

Xạ trị toàn thân

Xạ trị toàn thân là một thành phần trong một số phác đồ điều kiện cho ghép, đặc biệt trong các UNG THƯ huyết học cần ghép dị gen và hoặc ghép tự thân. Phương pháp được sử dụng từ những thời kỳ đầu của ghép tủy với mục đích cả ức chế miễn dịch (phòng ngừa loại mảnh ghép) và cả tác dụng chống u. Tuy nhiên, tỷ xuất điều trị của xạ trị toàn thân là thấp. Liều thông thường của xạ trị toàn thân là 10 đến 14Gy chia làm 2 lần hoặc 3 lần mỗi ngày trong 3 đến 4 ngày (cụ thể là 2Gy, 2 lần mỗi ngày, trong 3 ngày). Việc phân liều làm giảm rõ nguy cơ viêm phổi kẽ và bệnh tắc tĩnh mạch gan. Nếu cao hơn liều trên, các độc tính với phổi, gan, đường tiêu hóa là các độc tính giới hạn và đe dọa cuộc sống với lợi ích điều trị thêm được không nhiều

Tác giả bài viết: Dược Sĩ Đỗ Thế Nghĩa, Đại Học Dược Hà Nội, CEO: Mua Thuốc 24h

Tham khảo thêm bài viết:

Chia sẻ các mẹo chữa vết bỏng bị phồng rộp hiệu quả nhất

Tác dụng của cây đinh lăng

Điều trị ung thư bằng các thuốc không phải alkyl hóa và các phương pháp ít dùng
Rate this post